"Trong đời sau, người thiện nam cùng thiện nữ nào thấy hình tượng của ngài Địa Tạng Bồ tát và nghe Kinh nầy, cho đến đọc tụng, dùng hương hoa, đồ ăn món uống, y phục, vật báu mà bố thí cúng dường ngợi khen chiêm lễ, thì kẻ ấy được hai mươi tám điều lợi ích như sau đây:
Saturday, September 9, 2023
Tuesday, February 23, 2021
Tại sao vậy? VÌ MUỐN CÁI QUẢ ĐỨC SIÊU VIỆT TỐI THƯỢNG THÌ PHẢI PHÁT KHỞI CÁI TÂM CHÍ QUẢNG ĐẠI, DŨNG MÃNH. Người niệm Phật nếu đem cái tâm thái hời hợt, hẹp hòi, yếu hèn, chỉ riêng vì giải thoát bản thân thì chẳng bao lâu sẽ chiêu cảm cái quả báo nhỏ bé, nông cạn, tầm thường, không xứng hợp với Bản-hoài chư Phật, chẳng tương ứng cùng Bản-nguyện vĩ đại Bi-Trí Viên Mãn của Đức Phật A-Di-Đà cho nên khó được tiếp dẫn về nơi cõi nước Tây Phương.
Lại nữa, người niệm Phật còn phải đem tất cả công đức thực hành Sáu Ba-la-mật, Bốn Nhiếp-pháp, Bốn Vô-lượng-tâm hoặc Ba mươi bảy Phẩm-trợ-đạo … mà hồi hướng khắp anh em, cha mẹ, bằng hữu, chư Thiên, chư Tiên, bốn loại chúng sanh kẻ oán người thân đều được an trụ trong Phật danh NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT”.
(trích Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật)
NGƯỜI NIỆM PHẬT CHỈ BUỘC TÂM VÀ Ý vào danh hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, chăm chú LẮNG NGHE, mỗi câu rõ ràng, mỗi niệm phân minh. QUÊN CẢ THÂN, QUÊN CẢ CẢNH, QUÊN CẢ CÁI Ý THỨC TỰ BIẾT TA ĐANG NIỆM PHẬT, như thế mới gọi là LÌA BỎ.
– Lìa bỏ “Khổ, Tập, Diệt, Đạo” mà niệm Phật.
– Lìa bỏ “Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp” mà niệm Phật.
– Lìa bỏ “Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ” mà niệm Phật.
– Lìa bỏ “Tín giải, Hành chứng” mà niệm Phật.
– Lìa bỏ “Từ – Bi – Hỷ – Xả” mà niệm Phật.
– Lìa bỏ “Không, Vô thường, Vô ngã” mà niệm Phật.
– Lìa bỏ “Bồ đề, Niết bàn, Giải thoát, Giải thoát tri kiến” mà niệm Phật.
– Lìa bỏ tất cả các pháp hữu vi, tất cả các pháp vô vi mà niệm Phật.
– Lìa bỏ ngã và ngã sở.
– Lìa bỏ luôn cả ý tưởng cầu mong vãng sanh, chí nguyện độ sanh, ý hướng thành Phật mà niệm Phật.
Niệm Phật với TÂM XẢ LY như thế, mới được gọi là Chân Chánh Niệm Phật!”
(trích Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật)
– Mình an trụ nơi Bồ-đề-tâm, cũng phải giúp người khác an trụ Bồ-đề-tâm, nên tâm được an ổn.
– Mình rốt ráo, xa rời giận hờn tranh cãi, cũng phải khiến người khác nhẫn nhục nhu hòa nên tâm được an ổn.
– Mình buông bỏ pháp phàm phu điên đảo, cũng phải đưa người khác tới địa vị Thánh giả siêu việt nên tâm được an ổn.
– Mình siêng tu thiện căn vô lậu Niết-bàn, cũng phải khiến người khác hủy diệt hết mạng lưới hữu lậu trói buộc, nên tâm được an ổn.
– Mình đang sanh ra tại nhà Phật, cũng phải dẫn dắt người khác vượt thoát hố hầm dục lạc trở về bảo sở, nên tâm được an ổn.
– Mình thâm nhập pháp chân thật không tự tính, cũng nên giúp người khác chê chán huyễn tướng lầm mê, nên tâm được an ổn.
– Mình cảm ứng Trí-Tạng vô tận của Như-Lai, cũng khiến người khác thâm nhập Pháp Giới Bình Đẳng, nên tâm được an ổn.
Niệm Phật với tâm thái AN ỔN như vậy, mới gọi là Chân Chánh Niệm Phật!”
(trích Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật)
– TÍN TÂM ĐÀ-RA-NI, vì đặt trọn lòng tin thuần phác, trong suốt nơi Bản nguyện của Đức Phật A-Di-Đà cùng sự hộ niệm của Chư Phật ở mười phương.
– CHÁNH KIẾN ĐÀ-RA-NI, vì đúng như thật quán sát khéo léo tất cả các Pháp đang diễn biến trong tâm và ngoài thân.
– TƯ DUY ĐÀ-RA-NI, vì thường xuyên thấu triệt thể tánh của tất cả các Pháp sinh khởi trong từng sát-na hoại diệt.
– CẢM ỨNG ĐÀ-RA-NI, vì luôn luôn thâm nhập tất cả Bản nguyện Chư Phật.
– HỶ LẠC ĐÀ-RA-NI, vì an trụ nơi lực tiếp dẫn Chư Phật và Thánh-chúng.
– TAM THẾ ĐÀ-RA-NI, vì tự an nhiên giữa cảnh tượng của nhân quả tương tục trong ba đời, cũng như thông suốt nghĩa lý Phật Pháp của Tam thế Chư Phật.
– TAM MUỘI ĐÀ-RA-NI, vì an trụ trong danh hiệu bất khả tư nghị nên nghe thấy điều phi pháp mà tâm chẳng loạn, sống nơi cảnh loạn trược mà không trôi lăn.
Niệm Phật với ĐÀ-RA-NI TÂM như vậy, mới được gọi là Chân Chánh Niệm Phật!”
(trích Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật)
– Giới chẳng bỏ Bồ-đề-tâm, chẳng quên Bồ-đề-nguyện.
– Giới tự nhiên xa lìa các phép học của Thanh-văn, Duyên-giác, không tham đắm Niết-bàn vắng lặng mà bỏ rơi chúng sanh.
– Giới hân ngưỡng Đại-thừa, vui thích tu hành theo tất cả pháp học Bồ-tát đạo.
– Giới đem hết thảy thiện căn hồi hướng quả vị Chánh-Đẳng-Giác, mong cầu Phật-trí, Vô-sư-trí.
– Giới nơi tất cả Phật Pháp vô-sở-đắc.
– Giới chẳng dính mắc tất cả thiện sự hữu vi.
– Giới khiến cho Diệu Pháp được tồn tại lâu dài, làm cho hết thảy chúng sanh an trụ nơi Chánh Kiến.
– Giới khéo léo tư duy tất cả hành nghiệp chúng sanh và khiến chúng sanh trưởng dưỡng ý hướng giải thoát.
– Giới trang nghiêm tự tâm, đồng thời trang nghiêm mười phương quốc độ của Chư Phật.
– Giới chư căn Luật nghi, như Tỳ-kheo giới, Bồ-Tát giới, Ngũ giới tại gia v.v…
Niệm Phật với TÂM HỘ TRÌ các Giới-luật kể trên, mới được gọi là Chân Chánh Niệm Phật!”
(trích Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật)
– THÍ BA-LA-MẬT, vì xả bỏ tất cả sỡ hữu trong thân cũng như ngoài thân, không lẫn tiếc.
– GIỚI BA-LA-MẬT, vì thanh tịnh các cõi Phật.
– NHẪN BA-LA-MẬT, vì an trụ nơi lực dụng của Bản-nguyện.
– TINH TẤN BA-LA-MẬT, vì tất cả chướng duyên chẳng có thể làm thối chuyển tín tâm.
– THIỀN-ĐỊNH BA-LA-MẬT, vì chuyên nhất nhớ tưởng một cõi Phật, một danh hiệu Phật.
– BÁT NHÃ BA-LA-MẬT, vì đúng như thật mà quán sát tất cả tướng trạng và thể tánh của các Pháp không rời nhau.
– TÍN BA-LA-MẬT, vì thường xuyên an trụ nơi Phật lực bất khả tư nghị.
– NGUYỆN BA-LA-MẬT, vì đầy đủ những Hạnh – Nguyện của Phổ-Hiền.
– LỰC BA-LA-MẬT, vì hân hoan thể hiện tất cả năng lực tự tại của danh hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
– PHÁP BA-LA-MẬT, vì sẵn sàng xả thân cho Chánh Pháp, cho Bồ-Tát đạo.
Niệm Phật với TÂM BA-LA-MẬT ấy, mới được gọi là Chân Chánh Niệm Phật!”
(trích Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật)
– TỰ – THA BÌNH ĐẲNG, vì luôn mở rộng Huệ nhãn để nhận hiểu mình và người đều bình đẳng trước lực nhiếp thọ của chư Phật, chư Bồ-Tát.
– CHỦNG LOẠI BÌNH ĐẲNG, vì thường quán sát mười phương thế giới các loại chúng sanh từ sắc thân, hình trạng, tướng mạo, tộc tánh, thọ lượng, tri kiến, ý hành, sở ý… mà không khởi tâm phân biệt, đối đãi, ái thủ hoặc yếm hoạn.
– CHÚNG SANH GIỚI BÌNH ĐẲNG, vì liên tục mở bày Pháp giới trí trụ vô động tế mà tự tại giữa những huyễn hóa biến dị của các loại hữu tình nơi ba cõi thế gian.
– PHÁP GIỚI BÌNH ĐẲNG, vì thường xuyên an trụ nơi vô tướng khép vào pháp tướng, không móng khởi tâm sợ sệt trước thời gian vô cùng, không gian vô tận. Tự tại giữa một sát na như vô lượng vô biên đại kiếp. An nhiên giữa các cực vi đầu sợi lông, cũng như du hí mười phương trần sát hằng hà sa các quốc độ.
– KHÔNG TÁNH BÌNH ĐẲNG, vì luôn luôn ức niệm mình được sản sanh từ nhà Như-Lai, được Tự Tánh Thanh Tịnh Tạng, thấy rõ nhất thiết pháp Không, đắc Hư Không Hạnh vô ngại, giải ngộ và cảm ứng Tánh Không Bình Đẳng nơi hết thảy tứ sanh cửu hữu.
– PHẬT ĐỘ BÌNH ĐẲNG, vì hằng quán tưởng các cõi Thường-Tịch-Quang, Thật Báo Trang-Nghiêm, hoặc Phương-Tiện Hữu-Dư v.v… đều không ngăn ngại nhau, không riêng khác, tuy an lập Hoa-Tạng Thế-Giới Hải mà chẳng rời Tự Tâm, Thật Tế Trụ Địa vô phương sở, vô trụ xứ… tùy theo tâm lượng và sở nguyện của chúng sanh mà hiển hiện. Như hoa đốm, như tiếng vang, như bọt sóng, như bóng nước, như cầu vồng, như huyễn nhân kể chuyện mộng.
– TÍN TÂM BÌNH ĐẲNG, vì tín tâm vốn khởi nguyên từ Bát-nhã đức, từ Trí-tạng quảng đại, từ Phổ-nhãn thanh tịnh thông suốt cả ba đời, nên được thu nhiếp trong Bản-nguyện vô lượng đức, vô biên lực dụng của chư Phật.
Niệm Phật với những TÂM BÌNH ĐẲNG nêu trên, mới được gọi là Chân Chánh Niệm Phật!”
(trích Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật)
Việc ăn uống không ảnh hưởng đến trí tuệ, nhưng đừng vì thế mà sát hại chúng sanh để làm thức ăn cho mình hoặc cho người khác. Đó là đi trái với từ bi và trí tuệ,con đường nghiệp báo chắc chắn ko lành.
Các thiện tri thức!
Đạo Phật ko giới hạn độ tuổi, giới tính, chủng tộc.. bất cứ ai cũng có thể tu tập và hướng đến sự an lạc. Thờ cúng cũng thế, bất cứ ai cũng có thể thờ, tướng đứng hay ngồi của tượng Phật ko ảnh hưởng gì cả, tất cả cũng là hiện thân của Phật.
Các thiện tri thức!
Trí tuệ của Phật là để tu tập, thân sắc của Phật là để chiêm ngưỡng và kính trọng sự trang nghiêm,đức hạnh từ bi của người. Chớ đừng lấy hình Phật mà viết bài "phàm", chớ tin nội dung "phàm" mà bình luận gõ A, B, C, D.. mà được thế này thế kia. Đừng lấy trí tuệ mà chủ yếu là câu like, câu view, câu người theo dõi,..hoặc trục lợi vì lòng tin của đại chúng. Đó là tu tà kiến.
Các thiện tri thức!
Muốn truyền đạt Phật pháp, người đó phải có trí tuệ, hoặc phương tiện truyền pháp. Khi truyền đạt, phải suy xét tường tận căn duyên của người, tâm lý khi nghe có muốn tu tập hay ko thích. Để khi truyền đạt, ta biết chọn mức nào cho phù hợp, biết lúc nào nên nói, lúc nào dừng.
Các thiện tri thức!
Tu tập là thi hành sửa chữa thân tâm, chứ không phải là dạng "sống ảo" để cho mọi người thấy. Cho dù thực tại ta được mọi người khen ngợi, nhưng nghiệp không vì sự khen ngợi đó mà giúp ta đặng nên an lạc, trí tuệ . Tu là tu cho mình, sau đó là lợi lạc cho chúng sanh. Tu thật đi đường chánh, tu "ảo" thì ko nào ngoài đường tà. Đó vốn là quy luật.
Gần đây trang không đăng nhiều bài pháp không phải vì "cạn đề tài" viết pháp, mà cốt lõi chính để mọi người tu tập nhiều hơn, vào xem lại các bài đã đăng. Ta đọc hiểu, áp dụng vào đời sống tu tập thì đó mới là sự mong mỏi của trang. Chúng ta tu tập, học trí tuệ không phải để nói xuông mà có áp dụng, có thi hành thì trí tuệ mới tiến triển.
Các thiện tri thức!
Khi chúng ta còn mang thân tứ đại, nghĩa là ta vẫn còn vai mượn thân xác tạm thời này.Như vậy, bản thân chúng ta sống sao cho xứng đáng, chớ vội oan phí thời gian vào những "món" vô bổ, để đến khi ta không còn mang thân tứ đại, lúc đó hối hận cũng không kịp. Lúc đó, tùy theo nghiệp duyên mà ta sẽ đi theo con đường mà ta tạo khi ta còn mượn tạm thân xác, hay nói đúng hơn là khi ta còn sống. Thân vô thường, nên nhớ như vậy.
Các thiện tri thức!
Vạn vật vốn đi theo định luật "thành - trụ - hoại - không," vốn không có gì là mãi mãi. Đừng chấp tướng, chấp thân, chấp ngã , chấp pháp.. mà tự ta làm khổ chính ta. Nhưng cũng đừng buôn thả quá thay vì là buôn xả, tu tập nên dữ tính cân bằng vừa phải như sợi dây đàn mới phát ra âm thanh hay . Từ đó mới có thể an lạc, trí tuệ và cao hơn là giải thoát.
Khẩu nghiệp từ đâu ra?
Chúng ta có thân này là do nghiệp. Nghiệp được hiểu đơn giản nhất, đời thường nhất là thói quen.
Nếu ta thường xuyên sống bình an, nhẹ nhàng, thanh tịnh, vô ngã vị tha thì chúng ta tạo nghiệp thiện, được sinh về các cảnh giới thiện lành, được làm chư thiên và làm người hạnh phúc.
Nếu chúng ta thường xuyên tức giận, quát nạt kẻ khác, ức hiếp người khác sẽ tạo nghiệp không lành và có thể sinh về cõi atula (hiểu nôm na, cõi này chỉ biết sân hờn giận, đánh nhau chứ chẳng làm gì ngoài những trạng thái đó).
Nếu chúng ta tham lam, bỏn sẻn, keo kiệt thì tạo nghiệp ác và sinh về cõi dữ là ngạ quỷ. Nếu chúng ta cướp bóc, giết người, ngày đêm làm những việc xấu thì tạo nghiệp rất ác và sẽ sinh về địa ngục.
Trừ những người vô minh quá, còn lại đa phần tin vào luật nhân quả, tin rằng sống tốt được may mắn, sống ác bị gặp nhiều chuyện xấu.
Gieo nhân nào gặt quả đó. Quả chẳng trổ ngày nay thì ngày mai, không kiếp này thì kiếp tới. Nhân quả thật rõ. Nghiệp là luôn đúng.
Tuy nhiên vẫn có những người nghĩ rằng nghiệp chỉ do các hành động của mình gây ra mà không biết rằng nghiệp là do cả 3: thân, khẩu, ý tức do các hành động việc làm cũng như do lời nói và các suy nghĩ.
Ở đây tôi chỉ bàn về khẩu nghiệp, tức các nghiệp do lời nói sinh ra.
Cẩn thận, nói đúng, nói trúng thời điểm
Khẩu nghiệp là nghiệp do lời nói gây ra. Bất cứ những gì ta nói ra đều có tác động lợi hoặc hại, tốt hoặc xấu, xảy ra ngay tức thì hoặc để lại hậu quả sau này.
Khẩu nghiệp lành từ các lời nói tạo ra những kết quả tốt lành, làm lợi cho chính người đó và những người liên quan.
Khẩu nghiệp ác từ các lời nói tạo ra những hậu quả xấu, làm hại cho chính người nói ra và những người liên quan. Khẩu nghiệp còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng, cả xã hội.
Nếu chúng ta biết ái ngữ, tức nói lời hay, ý đẹp thì chính mình và những người xung quanh được hưởng.
Người có trí tuệ, có hiểu biết đúng đắn về khẩu nghiệp thường rất cẩn thận khi nói. Họ biết cách nói đúng, nói trúng, cả về nội dung lẫn thời điểm.
Người có trí tuệ biết cách nói để không làm phiền lòng người nghe. Khi thấy một người trong cơ quan hay trong gia đình, nhóm bạn đang làm một việc sai trái họ cũng tìm cách nói khéo léo và nói vào thời điểm hợp lý.
Người có trí tuệ hiểu rõ khẩu nghiệp nên chỉ sử dụng lời nói khi cần thiết, nói để đạt được kết quả mà mình mong muốn mà không làm tổn thương đến người nghe.
Người có trí tuệ thường nói với tâm Phật, tức dùng từ bi hỷ xả để nói. Trước khi nói, thậm chí họ ngồi cho lắng lòng, cho tâm thanh tịnh rồi mới nói.
Bí quyết để không tạo khẩu nghiệp
Chúng ta có thể thực tập 1 cách làm rất đơn giản là hít thở 3 hơi thật nhẹ, thật êm để tĩnh tâm và thư giãn trước khi nói. Lúc đó sẽ bớt đi những lời nói vô ích và không hợp lý, thậm chí là xấu.
Người có trí biết rõ nếu lời mà mình chuẩn bị nói ra có thể mang lại hậu quả xấu thì thường không nói hoặc chưa nói.
Bởi nếu ta nói ra mà ta không kiểm soát được lời nói thì ta tạo khẩu nghiệp xấu. Mà khẩu nghiệp xấu chắc chắn để lại hậu quả xấu, hoặc ngay tức thì, hoặc dài lâu.
Ai cũng muốn nghe những lời hay tiếng đẹp. Ta cũng vậy. Cớ gì ta nói những lời không dễ thương.
Tôi hay tự nghĩ: liệu người nghe có muốn nghe những lời mình nói không. Nếu câu trả lời rằng không thì thường là tôi cố gắng không nói.
Nói ra mà gây hận thù, oán ghét thì chính ta tạo nghiệp xấu. Nghiệp xấu lôi ta trôi lăn trong sanh tử luân hồi với khổ đau triền miên.
Đức Phật có dạy, trong mười nghiệp của con người thì khẩu nghiệp là bốn, tức gần một nửa. Đó là: Chuyện không nói có, chuyện có nói không; Nói lời hung ác; Nói lưỡi hai chiều; Nói lời thêu dệt.
Khẩu nghiệp ác là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà chúng ta tạo ra. Ai cũng biết rằng vết thương trên thân thể dễ lành hơn vết thương gây ra do lời nói.
Người có trí tuệ thường nhớ đến 4 khẩu nghiệp xấu nêu trên để tránh.
Vì vậy, người có trí tuệ thực tập chỉ nói sự thật, không bịa chuyện. Họ cũng tập nói những lời nhẹ nhàng êm dịu, dễ nghe.
Họ không nói lưỡi hai chiều, ngồi đây nói trắng đến chỗ khác lại nói đen. Họ thực tập không bịa chuyện, không thêu dệt câu chuyện, không nói sai sự thật. Họ thường không nói những gì mà mình không biết chắc chắn là có thật.
10 nghiep lanh
Bệnh từ miệng, họa từ miệng
Tôi vẫn nhớ những câu nói ông nội dạy từ xưa. Đại loại rằng, người trên đời này búa để trong miệng, con người giết nhau là do lời nói ác.
Ông tôi cũng dạy rằng bệnh từ cái miệng do ăn uống mà đem vào, họa cũng từ cái miệng do nói bậy bạ mà ra.
Ông dạy tiếp rằng mở miệng nhiều lời sẽ hao tổn thần khí, lưỡi nói chuyện phải trái, hơn thua, đẹp xấu, khen chê, sẽ dẫn đến tranh đấu, tranh cãi sinh ra lắm chuyện, thậm chí hậu quả nghiêm trọng.
Ông nói chữ nôm, chữ hán nhưng tôi chỉ nhớ nội dung. Nhờ ông nội dạy từ nhỏ nên tôi luôn lưu ý mỗi lời nói của mình. Tránh tối đa khẩu nghiệp ác.
Lớn lên tôi học Phật, học chánh pháp. Và tôi phát hiện ra rằng ngoài 4 khẩu nghiệp nêu trên, chúng ta còn cần lưu ý thêm các nghiệp khác từ miệng như ăn uống lãng phí, ăn uống cầu kỳ, quá đòi hỏi trong ăn uống.
Tôi cũng lưu ý mình khi phê bình người khác, khi chê bai người khác, khi khen người khác. Tôi học được và luôn nhắc mình thực tập không rêu rao lỗi của mọi người, nếu thấy lỗi thì khuyên bảo và nhắc nhở.
4 hạng người nên tránh
Trong kinh, Đưc Phật dạy, có 4 hạng người chúng ta nên tránh trở thành. Đó là những kẻ hay nói lỗi người khác, những kẻ hay nói chuyện mê tín, tà kiến, những kẻ miệng nói ra những lời tốt nhưng tâm lại xấu, những kẻ làm ít kể nhiều. Tôi luôn nhắc mình mỗi ngày.
Người có trí thường ăn uống tiết kiệm. Vậy nên để giữ khẩu nghiệp, tôi thường nhắc mình cùng các bạn bè và người thân ăn bao nhiêu gọi bấy nhiêu thức ăn, ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu, không để thừa.
Dù có giàu đến cỡ nào nhưng nếu không tiết kiệm, tiền của cũng hết. Hơn thế nữa chúng ta cần hiểu rằng tài sản và của cải của kiếp này là do nghiệp lành, do phước đức từ kiếp trước để lại.
Nếu ta chỉ biết tiêu mà không biết kiếm tức tạo các nghiệp lành thì kho của kia chẳng mấy sẽ hết.
Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy rằng, dù nói hàng ngàn lời nhưng không gì lợi ích, tốt hơn hãy nói một câu có nghĩa, nghe xong được tịnh lạc (Pháp cú số 100).
Hoặc không phải vì nói nhiều mới xứng danh bậc trí, an ổn không oán sợ thật đáng gọi bậc trí (Pháp cú 258).
Hoặc không phải vì nói nhiều là thọ trì chánh pháp, người nghe ít diệu pháp nhưng trực nhận viên dung, chánh pháp không buông lung là thọ trì Phật Pháp (Pháp cú số 259).
Khẩu nghiệp ở Việt Nam đang rất nặng
Tốt nhất là lưỡi, xấu nhất cũng là lưỡi
Nếu chúng có học Phật, biết nghiên cứu và thực hành những lời Phật dạy thì thật là tuyệt vời. Từ hiểu biết đúng đắn, ta áp dụng và cuộc sống và có kết quả ngay tức khắc, ta nhận được lợi lạc đầu tiên.
Viết đến đây tôi nhớ lại câu chuyện bố tôi kể nhiều lần. Chuyện rằng ông phú hộ kia yêu cầu cho giết lợn và chọn phần quí nhất của con lợn để nấu món ăn cho ông ta.
Đầu bếp mang lên cho ông một món ăn với phần quý nhất của con lợn là cái lưỡi. Khi được hỏi tại sao thì người đầu bếp trả lời rằng cái lưỡi là bộ phận quí nhất.
Nhờ cái lưỡi mà con người được nghe những lời êm dịu, nhẹ nhàng, yêu thương và hạnh phúc. Cái lưỡi cũng nói ra nhiều ý tưởng hay, nhiều dự án lớn, nhiều kế hoạch ích nước lợi dân. Nhờ cái lưỡi mà có khi cả xã hội được hưởng lợi.
Một lần khác ông phú hộ lại yêu cầu giết lợn và chọn một bộ phận xấu xa nhất làm cho ông một món ăn.
Đầu bếp mang lên cho ông ta món ăn mà bộ phận xấu xa nhất lại cũng là cái lưỡi lợn. Người đầu bếp giải thích rằng có nhiều lời nói giết chết mạng sống, có những lời nói xấu xa, tàn nhẫn làm tan nát gia đình, làm hủy hoại cả chế độ.
Chuyện bố kể làm tôi ngẫm sâu lắm. Khẩu nghiệp quả thật là rất lớn. Tôi luôn nhắc mình quan tâm khẩu nghiệp để có hành xử đúng, để có cuộc sống thiện lành trong kiếp này và các kiếp mai sau.
Sự thay đổi của người học trò đau khổ
Tôi nhớ rằng, tại các khóa thiền, chúng tôi hay thực tập thiền ca, tức thiền hát. Chúng tôi hát những bài hát rất có ý nghĩa để nhắc mình thực hành mỗi ngày.
Tôi rất thích bài hát sau:
“Lời qua (mà) tiếng lại
Giải quyết chi đâu
Sao không dừng lại?
Kẻo hố thêm sâu
Lời qua (mà) tiếng lại
Đưa ta tới đâu
Sao không dừng lại?
Thở nhẹ và sâu
Lời qua (mà) tiếng lại
Đưa ta tới đâu
Sao không thở nhẹ?
Mỉm cười nhìn nhau.”
Khi giận nhau chỉ cần hát bài này. Khi khó chịu, mâu thuẫn bức xúc, chỉ cần hát vào câu. Là tất cả êm xuôi.
Mong muốn của tôi rằng chúng ta nhắc nhau sống bình an thư giãn. Tôi hay nhắn tin cũng như viết trên facebook những câu dễ thương để mọi người đọc là có thể mỉm cười.
Tôi cũng nhắc bạn bè, người thân, đồng nghiệp và học trò “mỉm cười 10 giây” mỗi ngày. Lời khen ngợi, cám ơn, xin lỗi là những thứ tôi muốn mọi người cùng mình thực tập.
Tôi có một người học trò luôn đau khổ, chán chường, thất vọng, đầy tư duy tiêu cực. Tôi hướng dẫn em sống chánh niệm và ái ngữ. Tôi nhắc em mỗi ngày mỉm cười và nói lời hay, ý đẹp.
Chỉ vài tháng sau Tuấn có khuôn mặt tươi tắn, hạnh phúc. Mặt em trở nên sáng sủa và dễ thương. Sự cau có, cằn nhằn biến mất.
Tuấn tự nhiên được rất nhiều người yêu quý. Em thấy đời sống bây giờ khác xa trước. Tuấn như được đổi đời. Tu khẩu đổi hình là câu chuyện có thật của Tuấn.
Mong bạn cùng tôi thực hành ái ngữ và tu khẩu nghiệp thật tốt mỗi ngày nhé!
Chỉ sau vài ngày xuất hiện tại Việt Nam, “độ ta không độ nàng” đã nhanh chóng lọt vào top 2 trending của Youtube và top 10 bảng xếp hạng âm nhạc Zingchat.
“Độ ta không độ nàng” có tên gốc là “Độ tôi, không độ cô ấy" (tên tiếng Trung: 渡我不渡她) là một bài hát nhạc Hoa. Phiên bản gốc cùng tên do Tô Đàm Đàm và Giai Bằng trình bày, lời Việt Yu Ling. Những ca từ trong bài hát là câu chuyện tình buồn giữa một vị tiểu hòa thượng và cô gái phàm trần là quận chúa rất xinh đẹp. Tuổi thơ của hai người lớn lên cùng nhau chính vì thế cô gái có tình cảm đặc biệt với vị tiểu hòa thượng này. Thế nhưng, vì tiểu hòa thượng là người đã quy y cửa phật nên không thể động lòng được trước quận chúa.
Sau này, nàng bị hoàng tử xấu xa nhìn trúng, muốn lấy nàng làm thiếp, nàng không chịu, chạy đến hỏi hòa thượng: "Chàng có thích ta không?", chàng không đáp lời, nàng nói: "Ta hiểu rồi". Đêm trước ngày thành thân, vị hoàng tử kia uống say, mò đến phòng nàng đòi động phòng trước, cướp mất sự trong trắng của nàng, nên nàng đã treo cổ tự vẫn trên người còn đang mặc đồ cưới.
Chính cái chết của nàng đã khiến cho vị tiểu hòa thượng thức tỉnh và nhận ra rằng mình cũng có tình cảm sâu đậm với cô gái ấy nhưng không dám thừa nhận. Hòa thượng tìm đến tên hoàng tử kia, một kiếm chém đứt yết hầu.
Trong lúc đau khổ tột độ, vị hòa thượng chỉ biết hỏi Phật Tổ, tại sao phổ độ chúng sinh, cứu giúp mọi người mà lại không độ cho cô gái ấy để cô chịu nhiều đau khổ.
Như vậy, cái tên “Độ ta, không độ nàng” xuất phát từ câu nói oán trách của nhà sư với Phật Tổ. “Độ” (渡) nghĩa gốc là “qua/vượt qua”, nhưng cũng có nghĩa là “cứu giúp” trong giáo lý của Phật giáo. “Độ ta, không độ nàng” được hiểu là: “Vì sao phù hộ ta mà không phù hộ cho nàng?”.
1 câu chuyện hay..nhưng hồi kết ko đúng với nhân quả,thiết nghĩ ở trong chùa từ lúc nhỏ ít nhiều tính từ bi cũng thấm vào tâm can,nếu để giận dỗi đến mức nào thì cũng ko thể cầm gươm giết người tàn bạo đến vậy.Nội dung phản ánh tiêu cực ,ảnh hưởng đến hình ảnh của những vị tu sĩ mới xuất gia,cũng ko đi xát với thực tế. Nếu như "Độ Ta Không Độ Nàng" được trang ĐP&ĐS viết lại phần cuối thì mọi người có đồng ý ko?...
- Cô đó giờ có tin ai ăn lăng quăng mà sống ko? Người đó chính là mẹ của cô đó...
Khi hỏi về căn bệnh của mẹ mình, bác sĩ lắc đầu bảo rằng mẹ cô ko qua khỏi vì viêm loét dạ dày cấp tính.Trong dạ dày toàn những thức ăn thừa,cơm thiu,có những ngày có thể nhịn ăn quá nhiều nên dẫn đến hậu quả nặng nề như vầy. Người con không tin đó là sự thật, nhìn mẹ mình mà cảm thấy lo sợ. Cô nắm bàn tay người mẹ và thét gào khi tọa độ tim đã ko còn nhảy.
Trên thế gian này, không phải người cha người mẹ nào cũng điều yêu quý người con được như vậy. Thậm chí có những hành động trái ngược, mất luân thường đạo lý... Nhưng nếu chúng ta có được người sinh ra mình biết yêu thương, quan tâm, lo lắng tới mình thì hãy bên cạnh,giành hết tình cảm chân thành của mình báo hiếu đến những đấng sanh thành của mình nhé...
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.
.png
)














Social Buttons